Quyết định thành lập Hội đồng chấm luận án TS cấp Nhà nước số 2759/QĐ-BGDĐT
THÔNG TIN MỚI VỀ LUẬN ÁN
- Đề tài luận án: “Nghiên cứu đặc điểm hình ảnh, kích thước tuyến giáp người bình thường và bệnh nhân basedow bằng siêu âm, xạ hình, cắt lớp vi tính”
- Chuyên ngành: Y học hạt nhân - Mã số: 62.72.80.05
- Nghiên cứu sinh: Lương Linh Hà
- Người hướng dẫn 1 - PGS.TS. Mai Trọng Khoa
2 - PGS.TS. Thái Khắc Châu
- Cơ sở đào tạo: Học viện Quân y
Tóm tắt những kết luận mới của luận án:
1.Thể tích tuyến giáp người bình thường thay đổi theo giới tính: nam giới ( 11,41 ± 4,22 ml) nữ (10,36 ± 3,69 ml), chung nam nữ ( 10,65 ± 3,87ml), tăng dần theo tuổi đạt giá trị lớn nhất ở độ tuổi 40 , 50 (10,91ml) sau đó giảm xuống khi tuổi về già (9,99 ml) đồng thời có tương quan thuận với chiều cao (r = 0,503), cân nặng (r = 0,557) và diện tích da cơ thể (r = 0,623). Đối với bệnh nhân Basedow thể tích tuyến giáp lớn mà không có các đặc điểm trên, (siêu âm: 30,11 ±18,86ml).
2. Hình ảnh siêu âm tuyến giáp có hình cánh bướm, 2 thuỳ nối với nhau ở đoạn eo, hình tháp, mật độ âm tương đối đồng nhất tương đương với cơ ức đòn chũm.
- Trên cắt lớp vi tính đa dãy: lớp cắt ngang hình cánh bướm nối với nhau ở đoạn eo, cắt dọc hình tháp. Bờ tuyến đều, rõ nét. Mật độ đều, tỷ trọng tăng tự nhiên.
- Thể tích tuyến giáp xác định bằng siêu âm đầu dò tần số cao cho kết quả tương đương với chụp cắt lớp vi tính đa dãy (r = 0,961).
3. Kích thước và thể tích tuyến giáp ở 264 BN Basedow xác định bằng siêu âm, xạ hình, SPECT và cắt lớp vi tính đa dãy đều cho kết quả lớn hơn so với người bình thường (p < 0,001).
- Hình ảnh các tổn thương trên tuyến giáp BN basedow bằng siêu âm, xạ hình, cắt lớp vi tính như: trống âm, giảm âm, hỗn hợp âm, giảm tỷ trọng, tăng tỷ trọng, vách, vôi phát hiện được có tỷ lệ khá cao (47,73% có tổn thương khu trú).
- Kết quả cho thấy ưu điểm của siêu âm đầu dò tần số cao trong xác định kích thước thể tích tuyến giáp trên BN basedow, phát hiện tổn thương khu trú của tuyến giáp tốt hơn các phương pháp xạ hình, SPECT, cắt lớp vi tính đa dãy, nhất là trong chẩn đoán sàng lọc ban đầu.